Phường đúc đồng ở Huế: Phường nằm ở ven bờ nam sông Hương, đoạn từ cầu Giã Viên lên phía Long Thọ, cách thành phố Huế khoảng 3km về phía tây nam, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Cách đây vài thế kỷ, nơi đó là một công xưởng đúc đồng lớn, hoạt động rộn ràng một thời, cung cấp cho đàng trong và triều đình nhà Nguyễn những sản phẩm bằng đồng quan trọng như binh khí, đồ lễ nghi, sinh hoạt…Còn nay, Phường Đúc chỉ còn quần tụ trong năm xóm nhỏ với những tên gọi riêng: Giang Đình, Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bổn Bộ, Trường Đồng mà người vùng này vẫn quen gọi là năm dãy thợ đúc.

Từ thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục đã từng nhắc nhở đến người Kinh (Kinh Nhơn) và người địa phương (Bổn Bộ) với những sản phẩm bằng đồng khéo tay. Thời bấy giờ, thợ giỏi ở khắp nơi được tập trung về phủ Chúa thành các đội lính thợ trong các ty, cục và cùng làm việc trong một công trường chung (Trường Đồng). Chính vì sự hình thành không từ nhu cầu có tính chất nội tại của một làng xã nông nghiệp mà tính phường hội ở đây không quá khắy khe như những nơi khác. Từ dòng họ Nguyễn đầu tiên đến đây vốn gốc gác ở Bắc Ninh mà ông Nguyễn Văn Lương là ông tổ khai nghiệp, rất nhiều người ngoại tộc đã trở thành rể các chủ lò họ Nguyễn và được truyền nghề như họ Tống, họ Lê, họ Huỳnh…Lớp hậu duệ này đã trở thành những truyền nhân xứng đáng, góp phần làm nên nét đẹp của một làng nghề.

Phường Đúc hiện nay có trên 50 lò với các sản phẩm rất đa dạng: từ đồ lễ nghi như tượng, tráp, quả…cho đến đồ gia dụng như ống bút, bình hoa, xoong, nồi, chảo…Hiện nay đa phần trong số họ tập trung vào việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và đồ nghi lễ. Những bàn tay vàng như nghệ nhân Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn văn thoạn đã từng chỉ huy nhiều tốp thợ làm nên những công trình lớn như Đại Hồng Chung (chuông lớn), tượng phật, tượng lãnh tụ, doanh nhân, các tác phẩm nghệ thuật…sử dụng đến 4-5 tấn đồng, nổi tiếng từ Bắc đến Nam. Lớp thợ trẻ không kém tài hoa như Nguyễn Văn Tuệ, Tống Viết Tuấn, Nguyễn Văn Viện có thể tạo mẫu hoặc tạo nên những sản phẩm mang phong cách riêng biệt, giành nhiều giải thưởng trong các hội thi toàn quốc.

So với các làng nghề khác ở Huế, Phường Đúc hiện nay là một trong những nơi sinh hoạt nghề nhộn nhịp nhất. Nét đáng quý là quá trình kỹ thuật truyền thống vẫn được những người thợ ở đây gìn giữ gần như nguyên vẹn. Ngoài việc thay chiếc bệ tạo gió thủ công bằng động cơ thổi khi nấu nguyên liệu, quy trình còn lại hầu như đều làm bằng tay.

Theo dõi quá trình hình thành từ khối đất sét khô cứng với mớ nguyên liệu đồng nát ngổn ngang cho đến lúc sản phẩm được đánh bóng để có thể rời lò đúc và được mang đi khắp nơi, chúng ta mới thấy người thợ đúc đã “mang nặng đẻ đau” ra nó như thế nào.

Từ động tác sú đất, nặn khuôn, giáp khuôn, chèn khuôn, bố khuôn để đưa vào lò cho đến công việc nung khuôn- pha chế hợp kim- nấu chảy nguyên liệu rồi ra cơi, rót khuôn, làm nguội, đánh bóng, nhuộm sản phẩm, đó là một quá trình đòi hỏi không chỉ lao lực mà còn thử thách trí tuệ và tài năng của người thợ. Sản phẩm trọi (hoàn hảo) không chỉ mang ý nghĩa lành lặn và giống như đúc với bản rập (mẫu) về mặt ngoại hình mà còn phải đáp ứng một số tiêu chuẩn về chất lượng khác. Chẳng hạn, để tạo sự lan toả của một tiếng ngân, âm vang tiếng hát của thành Huế trong câu ca dao:

“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, Canh gà Thọ Xương”

Người thợ đúc Huế đã phải đứng trước thử thách lớn về mặt kỹ thuật. Đảm bảo được sự nguyên vẹn đối với sản phẩm có kích thước lớn là một khó khăn đã đành, tỉ lệ hợp lý giữa thiếc (Sn), chì (Pb), kẽm (Zn), Antimon…trong đồng là cả một bài toán không đơn giản. Chiếc chuông muốn ngân xa thì đồng phải già (hàm lượng thiếc trong đồng phải cao) nhưng đồng già lại đồng nghĩa với hiện tượng dễ vỡ khi va chạm (gõ chuông cũng là một sự va chạm). Điều đó thể hiện trong câu ca dao:

“Chuông già động đến chuông kêu
Anh già giọng nói, em xiêu tấm lòng”

Những tác phẩm bằng đồng tiêu biểu còn lại trên đất Huế ngày nay như vạc đồng, cửu đỉnh, đại hồng chung ở danh lam Thiên Mụ, khánh, tượng hay chín khẩu thần công trước Hoàng Thành Huế… là niềm kiêu hãnh khôn cùng của những người thợ đúc nơi đây.

Đứng trước những tác phẩm bằng đồng đa dạng và tinh xảo của những người thợ đúc Huế, không ai trong chúng ta lại có thể nghĩ rằng đời sống phần lớn trong số họ vẫn còn khó khăn. Từ sự hạn chế về thông tin thị trường và thiếu sự tiếp cận rộng rãi với khách du lịch trong và ngoài nước, sản phẩm của họ không dễ dàng tìm được đầu ra, đôi khi phải bán với giá không tương xứng với công sức đầu tư.

Một thành phố đang chọn hướng phát triển dựa trên ngành công nghiệp không khói như ở Huế, việc ưu tiên phát triển hàng thủ công mỹ nghệ là đặc biệt quan trọng. Với bề dày lịch sử và những tác phẩm bất hủ vượt thời đại của mình, Phường Đúc hiện nay ở Huế xứng đáng là một địa chỉ thú vị cho khách du lịch và những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sự thừa nhận cũng như tiếp nhận nồng nhiệt từ khách hàng chính là nguồn động viên tích cực cho việc nâng cao tay nghề, tạo sự hưng phấn cũng như lòng tự hào về công việc cùa những người thợ đúc đồng Huế.

Các cẩm nang khác: